Error ‭[3]‬

Web Part Error: A Web Part or Web Form Control on this Page cannot be displayed or imported. The type could not be found or it is not registered as safe.

Error Details:
[UnsafeControlException: A Web Part or Web Form Control on this Page cannot be displayed or imported. The type could not be found or it is not registered as safe.]
  at Microsoft.SharePoint.ApplicationRuntime.SafeControls.GetTypeFromGuid(Guid guid)
  at Microsoft.SharePoint.WebPartPages.SPWebPartManager.CreateWebPartsFromRowSetData(Boolean onlyInitializeClosedWebParts)
Dịch vụ trực tuyến

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC

KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

QUY CHẾ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY

THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
 (Ban hành kèm theo Quyết định số 559/ QĐ-ĐT, ngày11 tháng 9 năm 2007

của Hiệu trưởng trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp)

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Quy chế này quy định đào tạo đại học hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ bao gồm: tổ chức đào tạo; kiểm tra và thi học phần; xét và công nhận tốt nghiệp.

2. Quy chế này áp dụng đối với sinh viên các khoá đào tạo hệ chính quy ở trình độ đại học tại trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - Đại học Thái Nguyên thực hiện theo hình thức tích luỹ tín chỉ.

Điều 2. Chương trình giáo dục đại học

1. Chương trình giáo dục đại học (gọi tắt là chương trình) thể hiện mục tiêu giáo dục đại học, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi học phần, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học.

2. Chương trình được xây dựng trên cơ sở chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Mỗi chương trình gắn với một ngành (kiểu đơn ngành) hoặc với một vài ngành (kiểu song ngành; kiểu ngành chính – phụ; kiểu hai văn bằng).

3. Chương trình đào tạo được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp.

Trên cơ sở quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp quy định khối lượng kiến thức cho các chương trình như sau:

- Không quá 150 tín chỉ đối với đào tạo trình độ đại học 4 năm.

- Không quá 180 tín chỉ đối với đào tạo trình độ đại học 5 năm.

Căn cứ vào khối lượng kiến thức của từng chương trình, Hiệu trưởng quy định cụ thể việc phân bổ các học phần và các hoạt động khác cho từng học kỳ, năm học.

Điều 3. Học phần, Tín chỉ và Học phí tín chỉ

1. Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh viên tích luỹ trong quá trình học tập. Phần lớn các học phần có khối lượng từ 2 đến 4 tín chỉ, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ. Kiến thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theo năm học thiết kế và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học. Mỗi học phần đều có mã số riêng.

2. Có hai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn.

a. Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích luỹ.

b. Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết, nhưng sinh viên được tự chọn theo hướng dẫn của trường nhằm đa dạng hoá hướng chuyên môn hoặc được tự chọn tuỳ ý để tích luỹ đủ số tín chỉ quy định cho mỗi chương trình.

c. Hoạt động học tập giảng dạy của mỗi học phần bao gồm một hay kết hợp một số trong các hình thức sau:

    • Giảng dạy lý thuyết;

    • Hướng dẫn thảo luận, thực hành, bài tập;

    • Hướng dẫn thực tập, thực tập tốt nghiệp;

    • Hướng dẫn đồ án, bài tập lớn, khoá luận tốt nghiệp ...

Mỗi học phần đều có đề cương chi tiết thể hiện các nội dung: giới thiệu tóm tắt học phần, các học phần tiên quyết, học phần song hành, học phần học trước, cách đánh giá học phần, nội dung chính các chương mục, các giáo trình, tài liệu tham khảo... Đề cương chi tiết được Hiệu trưởng phê duyệt, công bố cùng chương trình và được giáo viên giới thiệu cho sinh viên trong buổi học đầu tiên của học phần.

+ Học phần tương đương và học phần thay thế

Học phần tương đương là một hay một nhóm học phần thuộc chương trình đào tạo của một khóa, ngành khác đang tổ chức đào tạo tại trường được phép tích lũy để thay cho một học phần hay một nhóm học phần trong chương trình của ngành đào tạo.

Học phần thay thế được sử dụng khi một học phần có trong chương trình đào tạo nhưng nay không còn tổ chức giảng dạy nữa và được thay thế bằng một học phần khác đang còn tổ chức giảng dạy.

Các học phần hay nhóm học phần tương đương hoặc thay thế do khoa quản lý chuyên môn đề xuất và là các phần bổ sung cho chương trình đào tạo trong quá trình thực hiện. Học phần tương đương hoặc thay thế được áp dụng cho tất cả các khóa, các ngành hoặc chỉ được áp dụng hạn chế cho một số khóa, ngành.

+ Học phần tiên quyết

Học phần A là học phần tiên quyết của học phần B, khi sinh viên muốn đăng ký học học phần B thì phải đăng ký học và thi đạt học phần A.

+ Học phần học trước

Học phần A là học phần học trước của học phần B, khi sinh viên muốn đăng ký học học phần B thì phải đăng ký và học xong học phần A.

+ Học phần song hành

Các học phần song hành với học phần A là những học phần mà sinh viên phải theo học trước hoặc học đồng thời với học phần A.

+ Học phần đặc biệt

Các học phần đặc biệt là các học phần không tính tín chỉ nhưng sinh viên phải học và được cấp chứng chỉ mới đủ điều kiện tốt nghiệp bao gồm: học phần giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất.

3. Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên. Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 60 giờ thực tập tại cơ sở; 45 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn, đồ án hoặc khoá luận tốt nghiệp.

Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, thảo luận để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân.

4. Một tiết học được tính là 45 phút trong học kỳ 1 năm học 2007-2008 và được tính 50 phút kể từ học kỳ 2 năm học 2007-2008 trở đi.

5. Học phí tín chỉ là đơn vị dùng để lượng hóa chi phí của các hoạt động giảng dạy học tập tính cho từng học phần. Học phí được xác định căn cứ theo số học phần mà sinh viên được xếp thời khóa biểu trong học kỳ và bằng tổng số học phí tín chỉ quy định cho các học phần đó nhân với mức tiền học phí/1 học phí tín chỉ. Mức tiền học phí/ 1 học phí tín chỉ do Hiệu trưởng quy định theo năm học. Mức tiền của 01 học phí tín chỉ do Hiệu trưởng quy định cho từng học phần và theo từng học kỳ.

Điều 4. Thời gian hoạt động giảng dạy, học tập và các hoạt động khác

1. Thời gian hoạt động giảng dạy, học tập và các hoạt động khác của trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - Đại học Thái Nguyên từ 6.00’ đến 20.30’ giờ hàng ngày và có thể bố trí cả vào thứ bảy và chủ nhật.

2. Tùy theo số lượng sinh viên, số lớp học phần cần tổ chức và điều kiện cơ sở vật chất của Nhà trường, phòng Đào tạo sắp xếp thời khóa biểu học tập, lịch kiểm tra giữa học phần, thi kết thúc học phần trong khoảng thời gian nói trên.

Điều 5. Đánh giá kết quả học tập

Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá sau từng học kỳ thông qua các tiêu chí sau:

1. Số tín chỉ của các học phần mà sinh viên đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ gọi là khối lượng kiến thức đăng ký.

2. Điểm trung bình chung học kỳ là điểm trung bình có trọng số của các học phần (cả đạt và không đạt) mà sinh viên đăng ký trong học kỳ đó, với trọng số là số tín chỉ tương ứng của từng học phần.

3. Khối lượng kiến thức tích lũy là khối lượng tính bằng tổng số tín chỉ của các học phần đã được đánh giá đạt (bằng các điểm chữ A, B, C, D) tính từ đầu khóa học.

4. Điểm trung bình chung tích lũy là điểm trung bình của các học phần mà sinh viên tích luỹ được tính từ đầu khoá học cho đến thời điểm xem xét vào lúc kết thúc mỗi học kỳ. Đây là điểm trung bình có trọng số của các học phần mà sinh viên đã đăng ký học và đạt yêu cầu (một trong các điểm A, B, C, D).

Chương II

TỔ CHỨC ĐÀO TẠO

Điều 6. Thời gian và kế hoạch đào tạo

1. Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp tổ chức đào tạo theo khoá học, năm học và học kỳ.

a. Khoá học là khoảng thời gian thiết kế để sinh viên hoàn thành một chương trình cụ thể. Tuỳ thuộc chương trình, trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp quy định tổ chức các khoá học như sau:

- Đào tạo trình độ Đại học 4 năm và 5 năm cho những người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp;

- Đào tạo trình độ Đại học 2 năm đến 2,5 năm đối với những người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng ngành đào tạo.

b. Một năm học gồm hai học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có ít nhất 13 tuần dành cho các hoạt động giảng dạy, học tập và 4 đến 5 tuần kiểm tra giữa học phần và thi kết thúc học phần. Ngoài hai học kỳ chính, nhà trường tổ chức học kỳ phụ vào dịp hè (5 tuần thực học và 1 tuần thi) để sinh viên có các học phần bị đánh giá không đạt (điểm F) học lại, sinh viên có nhu cầu cải thiện điểm ở các học kỳ chính học cải thiện điểm và sinh viên học giỏi có điều kiện học vượt nhằm kết thúc sớm chương trình đào tạo. Sinh viên đăng ký tham gia học kỳ phụ trên cơ sở tự nguyện, không bắt buộc.

2. Căn cứ vào khối lượng và nội dung kiến thức tối thiểu quy định cho các chương trình, Phòng Đào tạo tư vấn và Hiệu trưởng quyết định dự kiến phân bổ số học phần cho từng năm học và học kỳ.

3. Thời gian tối đa để hoàn thành chương trình bao gồm: thời gian thiết kế cho chương trình quy định tại khoản 1 của điều này, cộng với 2 học kỳ chính đối với khoá đào tạo đại học 2 ¸ 2,5 năm; 4 học kỳ chính đối với khoá đào tạo đại học 4 năm; 6 học kỳ chính đối với khoá đào tạo đại học 5 năm.

Các đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên (ưu tiên 1 và 2) theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy không bị hạn chế về thời gian tối đa để hoàn thành chương trình.

Điều 7. Đăng ký nhập học

1. Khi đăng ký vào học hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ tại trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp ngoài các giấy tờ phải nộp theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành. Tất cả giấy tờ khi sinh viên nhập học phải được xếp vào túi hồ sơ của từng cá nhân do phòng Công tác Học sinh - Sinh viên của trường quản lý và một túi do khoa quản lý.

2. Sau khi xem xét thấy đủ điều kiện nhập học, phòng Công tác Học sinh - Sinh viên trình Hiệu trưởng ký quyết định công nhận người đến học là sinh viên chính thức của trường và cấp cho họ:

    1. Thẻ sinh viên;

    2. Sổ đăng ký học tập;

    3. Phiếu nhận giáo viên chủ nhiệm (cố vấn học tập).

3. Mọi thủ tục đăng ký nhập học phải được hoàn thành trước ngày khai giảng khóa học. Trong vòng 15 ngày đầu của học kỳ đầu tiên hồ sơ nhập học vẫn được tiếp tục nhận nhưng sau thời gian quy định trên, sinh viên coi như bỏ học.

4. Sinh viên nhập học phải được Nhà trường cung cấp đầy đủ các thông tin về mục tiêu, nội dung và kế hoạch học tập của các chương trình, quy chế đào tạo, nghĩa vụ và quyền lợi của sinh viên thông qua niên giám và Website của trường.

5. Sinh viên dự thính là sinh viên đang học ở trường đại học khác, cán bộ đang công tác tại các cơ quan, xí nghiệp, viện nghiên cứu... có nguyện vọng đăng ký học một số học phần. Để được nhập học, sinh viên dự thính phải nộp hồ sơ xin học theo mẫu của Nhà trường; có thể phải dự kiểm tra điều kiện theo quy định của Nhà trường; phải thực hiện các nhiệm vụ học tập, đóng học phí như sinh viên chính quy nhưng chỉ được cấp chứng chỉ môn học, không được hưởng các quyền lợi và chế độ của sinh viên chính quy cũng như vừa làm vừa học của trường.

Điều 8. Phân ngành đào tạo

1. Đối với những ngành đã định điểm xét tuyển theo chương trình hoặc theo ngành đào tạo trong kỳ thi tuyển sinh đại học và cao đẳng: Sinh viên đạt điểm xét tuyển quy định đối với ngành đã đăng ký dự thi thì được trường sắp xếp vào học theo đúng nguyện vọng.

2. Đối với những ngành định điểm xét tuyển theo nhóm ngành đào tạo trong kỳ thi tuyển sinh, Nhà trường công bố công khai chỉ tiêu đào tạo cho từng ngành ngay từ đầu khoá học. Sau hai hoặc một số học kỳ, Nhà trường căn cứ vào kết quả học tập và nguyện vọng của sinh viên để phân ngành. Hiệu trưởng sẽ quy định số lượng, tiêu chí và quy trình phân ngành cụ thể cho từng năm.

Điều 9. Tổ chức lớp học

1. Lớp sinh viên và giáo viên chủ nhiệm

Lớp sinh viên tổ chức theo khoá học của ngành đào tạo. Lớp sinh viên duy trì trong cả khoá đào tạo, có tên riêng, có lớp trưởng, hệ thống đoàn, hội sinh viên do giáo viên chủ nhiệm lớp phụ trách.

Giáo viên chủ nhiệm đồng thời đảm nhiệm vai trò cố vấn học tập cho sinh viên trong lớp về đào tạo như giúp đỡ sinh viên lập kế hoạch học tập trong từng học kỳ và kế hoạch cho toàn bộ khoá học. Tổ chức hoạt động của lớp sinh viên, vai trò và trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm được quy định trong Quy chế công tác sinh viên của trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp.

2. Lớp học phần

Lớp học phần được tổ chức theo từng học phần dựa trên kết quả đăng ký khối lượng học tập của sinh viên ở từng học kỳ. Mỗi lớp học phần có thời khoá biểu, lịch thi, có mã số riêng. Mỗi lớp học phần có một lớp trưởng, lớp phó do khoa phụ trách chuyên môn học phần chỉ định và chịu sự quản lý của khoa.

Số sinh viên tối thiểu của mỗi lớp học phần do Hiệu trưởng quy định theo từng học kỳ tuỳ theo điều kiện cụ thể của Nhà trường. Nếu số lượng sinh viên đăng ký ít hơn quy định, lớp học phần sẽ không được tổ chức và sinh viên phải đăng ký chuyển sang học những lớp học phần khác cho đủ khối lượng kiến thức (số tín chỉ) tối thiểu đăng ký trong học kỳ.

Điều 10. Đăng ký khối lượng học tập

1. Đầu mỗi năm học, Nhà trường phải thông báo công khai lịch trình học tập dự kiến cho từng chương trình trong từng học kỳ, dự kiến quy mô và số lớp học phần sẽ mở, danh sách các học phần bắt buộc và tự chọn dự kiến sẽ dạy, đề cương chi tiết, nội dung đánh giá (ngân hàng câu hỏi thi kết thúc học phần) và điều kiện tiên quyết để được đăng ký học cho từng học phần, lịch kiểm tra giữa học phần và thi kết thúc học phần, hình thức kiểm tra và thi đối với các học phần.

2. Trước khi bắt đầu mỗi học kỳ, tuỳ theo khả năng và điều kiện học tập của bản thân, từng sinh viên phải đăng ký học các học phần dự định sẽ học trong học kỳ đó với giáo viên chủ nhiệm theo hướng dẫn của khoa. Có 3 hình thức đăng ký học phần sẽ học trong mỗi học kỳ: đăng ký sớm, đăng ký bình thường và đăng ký muộn.

a. Đăng ký sớm

Đăng ký sớm là hình thức đăng ký được thực hiện trước thời điểm bắt đầu học kỳ 2 tháng;

b. Đăng ký bình thường là hình thức đăng ký được thực hiện trước thời điểm bắt đầu học kỳ 2 tuần;

c. Đăng ký muộn là hình thức đăng ký được thực hiện trong 2 tuần đầu của học kỳ chính hoặc trong tuần đầu của học kỳ hè cho những sinh viên muốn đăng ký học thêm hoặc đăng ký học đổi sang học phần khác khi không có lớp.

3. Khối lượng học tập tối thiểu và tối đa mà mỗi sinh viên phải đăng ký trong mỗi học kỳ chính được quy định như sau:

a. Tối thiểu 14 tín chỉ và tối đa 25 tín chỉ cho mỗi học kỳ (trừ học kỳ cuối khoá học) đối với những sinh viên được xếp hạng học lực bình thường;

b. Tối thiểu 10 tín chỉ và tối đa 20 tín chỉ cho mỗi học kỳ (trừ học kỳ cuối khoá học) đối với những sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu;

c. Số tín chỉ tối đa sinh viên đăng ký học vào học kỳ phụ là 6.

4. Việc đăng ký các học phần sẽ học cho từng học kỳ phải đảm bảo điều kiện tiên quyết của từng học phần và trình tự học tập của mỗi chương trình cụ thể.

5. Khoa chuyên môn của trường chỉ nhận đăng ký khối lượng học tập của sinh viên ở mỗi học kỳ khi đã có chữ ký chấp thuận của giáo viên chủ nhiệm (cố vấn học tập) trong sổ đăng ký học tập hoặc phiếu đăng ký theo mẫu của Nhà trường. Khối lượng đăng ký học tập của sinh viên trong mỗi học kỳ phải được các Khoa thống kê, tổng hợp và chuyển cho phòng Đào tạo xử lý dữ liệu và lưu giữ.

Điều 11. Rút bớt học phần đã đăng ký

1. Việc rút bớt học phần trong khối lượng học tập đã đăng ký chỉ được chấp nhận sau 2 tuần kể từ đầu học kỳ chính và không được muộn quá 4 tuần; hoặc là sau 1 tuần nhưng không vượt quá 2 tuần đầu của học kỳ hè. Ngoài thời hạn trên học phần vẫn được giữ trong phiếu đăng ký và nếu sinh viên không đi học sẽ được xem như tự ý bỏ học và phải nhận điểm F.

2. Điều kiện rút bớt các học phần đăng ký:

a. Sinh viên phải tự viết đơn gửi phòng Đào tạo;

b. Phải được giáo viên chủ nhiệm chấp thuận;

c. Không vi phạm khoản 2 của Điều 10 của qui chế này.

Chỉ sau khi có giấy báo của phòng Đào tạo cho giáo viên phụ trách lớp học phần, sinh viên mới được phép bỏ lớp đối với các học phần xin rút bớt.

Điều 12. Đăng ký học lại

1. Sinh viên có điểm tổng kết học phần bắt buộc là F thì phải đăng ký học lại học phần đó ở một trong các học kỳ tiếp sau cho đến khi đạt điểm A, B, C hoặc D.

2. Sinh viên có điểm tổng kết học phần tự chọn là F phải đăng ký học lại học phần đó hoặc đổi sang học phần tự chọn tương đương khác.

3. Ngoài các trường hợp quy định tại khoản 1 và 2 của điều này, sinh viên được quyền đăng ký học lại hoặc đổi sang học học phần khác (đối với các học phần tự chọn) để cải thiện điểm trung bình chung tích lũy.

Điều 13. Nghỉ ốm

Sinh viên xin nghỉ ốm trong quá trình học hoặc trong đợt thi, phải viết đơn xin phép gửi Trưởng khoa trong vòng một tuần kể từ ngày ốm, kèm theo giấy xác nhận của trạm y tế trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp hoặc bệnh viện.

Điều 14. Xếp hạng năm đào tạo và học lực

1. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào khối lượng kiến thức tích lũy, Nhà trường xếp hạng năm đào tạo của sinh viên như sau:

- Sinh viên năm thứ nhất:

Nếu khối lượng kiến thức tích lũy được dưới 35 tín chỉ.

- Sinh viên năm thứ hai:

Nếu khối lượng kiến thức tích lũy được từ 35 tín chỉ đến dưới 70 tín chỉ.

- Sinh viên năm thứ ba:

Nếu khối lượng kiến thức tích lũy được từ 70 tín chỉ đến dưới 105 tín chỉ.

- Sinh viên năm thứ tư:

Nếu khối lượng kiến thức tích lũy được từ 105 tín chỉ đến 150 tín chỉ.

- Sinh viên năm thứ năm:

Nếu khối lượng kiến thức tích lũy được từ 150 tín chỉ trở lên.

2. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào điểm trung bình chung tích luỹ, sinh viên được xếp hạng về học lực như sau:

a. Hạng bình thường: Nếu điểm trung bình chung tích luỹ đạt từ 2,00 trở lên.

b. Hạng yếu: Nếu điểm trung bình chung tích luỹ đạt dưới 2,00 nhưng chưa rơi vào trường hợp buộc thôi học.

c. Kết quả học tập trong học kỳ hè được gộp vào kết quả học tập trong học kỳ chính ngay trước đó để xếp hạng sinh viên về học lực.

Điều 15. Nghỉ học tạm thời

1. Sinh viên được quyền viết đơn gửi Hiệu trưởng xin nghỉ học tạm thời và bảo lưu kết quả đã học một trong các trường hợp sau:

a. Được động viên vào các lực lượng vũ trang.

b. Bị ốm hoặc tai nạn buộc phải điều trị trong thời gian dài nhưng phải có giấy xác nhận của cơ quan y tế từ cấp huyện trở lên.

c. Vì nhu cầu cá nhân. Trường hợp này, sinh viên phải học ở trường ít nhất một học kỳ, không rơi vào các trường hợp bị buộc thôi học quy định tại điều 16 của quy chế này và phải đạt điểm trung bình chung tích luỹ không dưới 2,00. Thời gian nghỉ học tạm thời vì nhu cầu cá nhân phải được tính vào thời gian học chính thức được quy định tại khoản 3 điều 6 của quy chế này.

Hội đồng Nhà trường gồm Hiệu trưởng hoặc Hiệu phó được uỷ quyền, Trưởng phòng Đào tạo, Trưởng phòng Công tác Học sinh – Sinh viên, Trưởng Khoa chuyên môn sẽ xem xét đơn và ra quyết định cho sinh viên được phép nghỉ học tạm thời.

2. Sinh viên nghỉ học tạm thời, trước khi muốn trở lại tiếp tục học tập tại trường phải viết đơn gửi Hiệu trưởng ít nhất 1 tuần trước khi bắt đầu học kỳ mới.

Điều 16. Cảnh cáo kết quả học tập và bị buộc thôi học

1. Sau mỗi học kỳ, sinh viên bị cảnh cáo kết quả học tập nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:

a. Điểm trung bình chung học kỳ đạt dưới 0,80 đối với học kỳ đầu của khoá học; đạt dưới 1,00 đối với các học kỳ tiếp theo hoặc đạt dưới 1,10 đối với hai học kỳ liên tiếp (theo thang điểm 4).

b. Có điểm trung bình chung tích luỹ đạt dưới 1,2 đối với sinh viên năm thứ nhất; dưới 1,40 đối với sinh viên năm thứ hai; dưới 1,60 đối với sinh viên năm thứ ba hoặc dưới 1,80 đối với sinh viên năm thứ tư và sinh viên năm thứ năm.

2. Sau mỗi học kỳ, sinh viên bị buộc thôi học nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:

a. Đã tự ý bỏ học từ một học kỳ chính trở lên.

b. Bị cảnh cáo kết quả học tập 2 học kỳ liên tiếp.

c. Đã học vượt quá thời gian tối đa được phép học tại trường như qui định tại khoản 3 điều Điều 6 của quy chế này.

d. Bị kỷ luật lần thứ hai vì lý do đi thi hộ hoặc nhờ người khác thi hộ như theo quy định tại khoản 2 điều 29 của quy chế này.

3. Sinh viên có quyết định thôi học hoặc buộc thôi học, chậm nhất sau 1 tháng được trường thông báo trả về địa phương nơi sinh viên có hộ khẩu thường trú hoặc chuyển sang chương trình giáo dục đại học không chính quy tương ứng.

Điều 17. Học cùng một lúc hai chương trình

1. Sinh viên học cùng lúc hai chương trình là sinh viên có nhu cầu đăng ký học thêm một chương trình thứ hai để khi tốt nghiệp được cấp hai văn bằng.

2. Điều kiện để học cùng lúc hai chương trình:

a. Ngành đào tạo chính của chương trình thứ hai phải khác ngành đào tạo chính ở chương trình thứ nhất;

b. Đã học kết thúc học kỳ đầu tiên của năm học thứ nhất của chương trình thứ nhất;

c. Sinh viên không thuộc diện xếp hạng học lực yếu ở chương trình thứ nhất.

3. Sinh viên đang học thêm chương trình thứ hai, nếu rơi vào diện bị xếp hạng học lực yếu của chương trình thứ hai, phải dừng học thêm chương trình thứ hai ở học kỳ tiếp theo.

4. Thời gian tối đa được phép học đối với sinh viên học cùng lúc hai chương trình là thời gian tối đa quy định cho chương trình thứ nhất, quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quy chế này. Khi học chương trình thứ hai, sinh viên được bảo lưu điểm của những học phần có nội dung và khối lượng kiến thức tương đương có trong chương trình thứ nhất. Sinh viên làm đơn xin được bảo lưu; khoa xác nhận; phòng đào tạo trình Hiệu trưởng ra quyết định.

5. Sinh viên chỉ được xét tốt nghiệp chương trình thứ hai, nếu có đủ điều kiện tốt nghiệp ở chương trình thứ nhất.

Điều 18. Điều kiện chuyển trường

1. Sinh viên được xét chuyển trường nếu có đủ các điều kiện sau đây:

a. Trong thời gian học tập, nếu gia đình chuyển nơi cư trú hoặc sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, cần thiết phải chuyển đến trường gần nơi cư trú của gia đình để thuận lợi trong học tập;

b. Xin chuyển đến trường có cùng ngành hoặc thuộc cùng nhóm ngành với ngành đào tạo mà sinh viên đang học;

c. Được sự đồng ý của hiệu trưởng hai trường;

d. Không thuộc một trong các trường hợp không được phép chuyển trường quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Sinh viên không được phép chuyển trường trong các trường hợp sau:

a. Sinh viên đã tham dự kỳ thi tuyển sinh theo đề thi chung nhưng không trúng tuyển vào trường hoặc có kết quả thi vào trường thấp hơn điểm trúng tuyển của trường xin chuyển đến.

b. Sinh viên thuộc diện nằm ngoài vùng tuyển sinh quy định của trường xin chuyển đến.

c. Sinh viên năm thứ nhất hoặc năm cuối khoá.

d. Sinh viên đang trong thời gian bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên.

3. Thủ tục chuyển trường:

a. Sinh viên xin chuyển trường phải làm hồ sơ xin chuyển trường theo mẫu qui định thống nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo .

b. Hiệu trưởng trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp có quyền quyết định tiếp nhận hoặc không tiếp nhận; quyết định việc tiếp tục học tập của sinh viên. Việc công nhận các học phần mà sinh viên chuyển đến được chuyển đổi kết quả và số học phần phải học bổ sung dựa trên cơ sở so sánh chương trình của trường sinh viên xin chuyển đi và chương trình tương ứng của trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp. Khoa xác nhận và đề nghị; phòng Đào tạo trình Hiệu trưởng ra quyết định.

Chương III

KIỂM TRA VÀ THI HỌC PHẦN

Điều 19. Đánh giá học phần

1. Đối với học phần chỉ có lý thuyết hoặc có cả lý thuyết và thực hành: Tuỳ theo tính chất của học phần, điểm tổng hợp đánh giá học phần (gọi tắt là điểm học phần) được tính căn cứ vào một phần hoặc tất cả các điểm đánh giá bộ phận bao gồm: điểm kiểm tra thường xuyên trong quá trình học tập; điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận; điểm đánh giá phần thực hành; điểm chuyên cần, điểm kiểm tra giữa học phần; điểm tiểu luận và điểm thi kết thúc học phần, trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp và có trọng số không dưới 50%.

2. Việc lựa chọn các hình thức đánh giá bộ phận và trọng số của các điểm đánh giá bộ phận, cũng như cách tính điểm tổng hợp đánh giá học phần do bộ môn đề xuất, được Hiệu trưởng phê duyệt và phải được quy định công khai trong đề cương chi tiết của học phần.

3. Giáo viên phụ trách học phần trực tiếp ra đề và cho điểm đánh giá bộ phận trừ bài thi kết thúc học phần.

Điều 20. Tổ chức kỳ thi kết thúc học phần và kiểm tra giữa học phần

1. Cuối mỗi học kỳ, Nhà trường tổ chức 1 kỳ thi kết thúc học phần. Khoảng tuần thứ 8 của mỗi học kỳ, Nhà trường bố trí một tuần để tổ chức kiểm tra giữa học phần (riêng học phần 1 tín chỉ, bộ môn tự bố trí tổ chức kiểm tra). Phòng Đào tạo lập kế hoạch thi và kiểm tra, bộ môn tổ chức kiểm tra các học phần, thi kết thúc các học phần do bộ môn phụ trách, khoa bố trí cán bộ coi thi. Mỗi phòng thi viết phải đảm bảo có 2 cán bộ coi thi trong đó ít nhất 1 cán bộ coi thi là giáo viên.

2. Thời gian dành cho ôn thi kết thúc học phần là 1 ngày cho 1 tín chỉ. Sinh viên tự sắp xếp thời gian ôn kiểm tra giữa học phần.

3. Điều kiện dự thi kết thúc học phần

Sinh viên phải đảm bảo trên 80% số giờ lên lớp của học phần kể cả lý thuyết và thảo luận mới được dự thi kết thúc học phần.

Danh sách sinh viên bị đình chỉ thi học phần (theo mẫu Nhà trường) do giáo viên trực tiếp giảng dạy đề nghị có xác nhận của trưởng bộ môn và phải gửi tới phòng đào tạo trước ngày thi kết thúc học phần ít nhất 3 ngày để lập danh sách thi.

Bộ môn tự lập kế hoạch và tổ chức đánh giá các bài kiểm tra bộ phận còn lại, bảo vệ bài tập lớn, bài thí nghiệm, thực hành vv… ; tổ chức kiểm tra và bảo vệ lần 2 cho những sinh viên có lý do chính đáng, được bộ môn cho phép vắng kiểm tra, bảo vệ lần 1.

Điều 21. Ra đề thi, hình thức thi, chấm thi, xử lý điểm, số lần được dự thi kết thúc học phần

1. Đề thi kết thúc học phần và kiểm tra giữa học phần phải phù hợp với nội dung học phần đã quy định trong chương trình. Việc ra đề thi kết thúc học phần được lấy trực tiếp từ ngân hàng câu hỏi thi hoặc trên cơ sở ngân hàng câu hỏi thi. Trưởng hoặc phó trưởng bộ môn phân công giáo viên ra đề và ký duyệt đề.

2. Hình thức kiểm tra giữa học phần và thi kết thúc học phần

Hình thức kiểm tra giữa học phần là kiểm tra viết.

Hình thức thi kết thúc học phần có thể là thi viết (trắc nghiệm hoặc tự luận), vấn đáp, viết tiểu luận, làm bài tập lớn, hoặc kết hợp giữa các hình thức trên được thể hiện rõ trong đề cương chi tiết của học phần. Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng được uỷ quyền duyệt các hình thức thi thích hợp cho từng học phần. Mỗi học phần chỉ có một bài thi kết thúc học phần.

3. Chấm bài kiểm tra giữa học phần và thi kết thúc học phần

a. Các học phần chỉ có lý thuyết

Trưởng bộ môn (hoặc phó trưởng bộ môn) có trách nhiệm phân công giáo viên chấm bài thi kết thúc học phần và đồ án học phần. Việc chấm thi kết thúc học phần và đồ án học phần phải do ít nhất hai giáo viên đảm nhiệm.

Chấm bài kiểm tra giữa học phần được thực hiện tại văn phòng bộ môn. Phiếu ghi các điểm đánh giá bộ phận được lưu tại văn phòng bộ môn và văn phòng khoa có đủ chữ ký của giáo viên đánh giá và Trưởng bộ môn.

Chấm thi viết kết thúc học phần được thực hiện tại phòng chấm thi của Khoa. Phiếu điểm gốc thi kết thúc học phần phải có đầy đủ họ tên và chữ ký của hai giáo viên thuộc bộ môn giảng dạy học phần, Trưởng bộ môn và được lưu tại văn phòng bộ môn và văn phòng khoa. Bài thi viết, đồ án môn học, tiểu luận, bài tập lớn của sinh viên được lưu giữ ít nhất 2 năm kể từ ngày nộp tại phòng chấm thi của khoa hoặc văn phòng bộ môn do Trưởng khoa quyết định.

Chấm thi vấn đáp phải được thực hiện tại giảng đường theo lịch của Nhà trường. Điểm thi vấn đáp phải công bố ngay sau mỗi buổi thi khi hai giáo viên chấm thi thống nhất được điểm chấm. Trong trường hợp không thống nhất thì các giáo viên chấm thi trình trưởng bộ môn quyết định.

b. Các học phần chỉ có thực hành

Việc chấm các bài kiểm tra và thi kết thúc các học phần thực hành thực hiện tại trung tâm thực nghiệm hay các phòng thí nghiệm của Nhà trường hoặc của cơ sở đào tạo liên kết. Điểm học phần là điểm trung bình chung của các điểm đánh giá bộ phận có trọng số.

c. Các học phần có cả lý thuyết và thực hành

Kiểm tra giữa học phần và thi kết thúc học phần thực hiện như các học phần chỉ có lý thuyết. Phần thực hành được coi là điểm đánh giá bộ phận còn lại của học phần.

Bộ môn có trách nhiệm vào điểm trung bình đánh giá bộ phận, điểm thi kết thúc học phần của từng lớp học phần theo phiếu điểm gốc trên các files Excel. Sau đó bộ môn nộp files Excel cho văn phòng khoa. Văn phòng khoa có trách nhiệm xử lý ngay dữ liệu và in bảng điểm học phần của từng lớp học phần thành 4 bản. Các bảng điểm học phần này phải có đủ chữ ký của giáo viên nộp điểm, cán bộ xử lý dữ liệu và Trưởng khoa. Một bản lưu tại văn phòng bộ môn, một bản lưu tại văn phòng khoa, một bản gửi cho phòng Đào tạo và một bản gửi cho phòng Công tác Học sinh - Sinh viên chậm nhất 10 ngày kể từ ngày thi kết thúc học phần. Sau đó khoa chuyển các files dữ liệu cho phòng Đào tạo tổng hợp. Điểm học phần của sinh viên phải được công bố công khai tại văn phòng khoa và Website của Nhà trường chậm nhất là 15 ngày sau khi thi kết thúc học phần.

4. Số lần kiểm tra giữa kỳ, thi kết thúc học phần

Nhà trường chỉ tổ chức một lần kiểm tra giữa học phần và thi kết thúc học phần cho mỗi học phần.

Sinh viên vắng kiểm tra giữa học phần hoặc thi kết thúc học phần nếu không được phép của Trưởng khoa coi như đã dự kiểm tra hoặc thi và phải nhận điểm 0 (thang điểm 10).

Sinh viên vắng kiểm tra giữa học phần hoặc thi kết thúc học phần nếu được Trưởng khoa cho phép, sẽ được phép dự kiểm tra hoặc thi vào học kỳ hè (nếu có) hoặc vào các học kỳ chính tiếp theo và được coi là kiểm tra, thi lần đầu.

Điều 22. Cách tính điểm đánh giá bộ phận, điểm học phần

1. Điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần được chấm theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10) và được làm tròn đến một chữ số thập phân.

2. Điểm học phần là tổng điểm của của tất cả các điểm đánh giá bộ phận của học phần nhân với trọng số tương ứng. Điểm học phần làm tròn đến một chữ số thập phân, sau đó được chuyển sang thang điểm chữ với các mức như sau:

a. Loại đạt A (8,5 ¸ 10) Giỏi

        B (7,0 ¸ 8,4) Khá

                    C (5,5 ¸ 6,9) Trung bình

        D (4,0 ¸ 5,4) Trung bình yếu

b. Loại không đạt: Điểm F (dưới 4,0) Kém

c. Đối với những học phần chưa đủ cơ sở để đưa vào tính điểm trung bình chung học kỳ, khi xếp mức đánh giá được sử dụng các ký hiệu sau:

I Chưa đủ dữ liệu đánh giá.

X Chưa nhận được kết quả thi kết thúc học phần.

d. Đối với những học phần được Nhà trường cho phép chuyển điểm, khi xếp mức đánh giá sử dụng ký hiệu R viết kèm với kết quả.

3. Việc xếp loại các mức điểm A, B, C, D, F được áp dụng cho các trường hợp sau đây:

a. Đối với những học phần mà sinh viên đã có đủ điểm đánh giá bộ phận, kể cả trường hợp bỏ học, bỏ kiểm tra hoặc bỏ thi không có lý do phải nhận điểm 0;

b. Chuyển đổi từ mức điểm I qua, sau khi đã có các kết quả đánh giá bộ phận mà trước đó sinh viên được bộ môn cho phép nợ.

c. Chuyển đổi từ các trường hợp X qua.

4. Việc xếp loại ở mức điểm F ngoài những trường hợp như nêu trong khoản 3 của điều này, còn áp dụng cho trường hợp sinh viên vi phạm quy chế thi và bị xử lý kỷ luật ở mức đình chỉ hoặc khi kiểm tra, hoặc khi thi kết thúc học phần, hoặc khi bảo vệ thí nghiệm, hoặc khi bảo vệ bài tập lớn vv...

5. Việc xếp loại theo mức điểm I được áp dụng cho các trường hợp sau đây:

a. Trong thời gian học hoặc trong thời gian thi kết thúc học kỳ, sinh viên bị ốm hoặc tai nạn không thể dự kiểm tra hoặc thi, nhưng phải được Trưởng khoa cho phép;

b. Sinh viên không thể dự kiểm tra bộ phận hoặc thi vì những lý do khách quan bất khả khả kháng, được Trưởng khoa chấp nhận.

Trước khi bắt đầu học kỳ mới kế tiếp, sinh viên nhận mức điểm I phải trả xong các nội dung kiểm tra bộ phận còn nợ để được chuyển điểm. Trường hợp sinh viên chưa trả nợ và chưa chuyển điểm nhưng không rơi vào trường hợp bị buộc thôi học thì vẫn được học tiếp ở các học kỳ kế tiếp.

6. Việc xếp loại theo mức điểm X được áp dụng đối với những học phần mà phòng Đào tạo chưa nhận được báo cáo kết quả học tập của sinh viên từ bộ môn, khoa chuyển đến.

7. Ký hiệu R được áp dụng cho các trường hợp sau:

a. Điểm học phần được đánh giá ở các mức điểm A,B,C,D trong đợt đánh giá đầu học kỳ (nếu có) đối với một số học phần được phép thi sớm để giúp sinh viên học vượt.

b. Những học phần được công nhận kết quả, khi sinh viên chuyển từ trường khác đến hoặc chuyển đổi giữa các chương trình.

Điều 23. Tính điểm trung bình chung

1. Để tính điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy, mức điểm chữ của mỗi học phần phải được quy đổi sang thang điểm 4 như sau:

A tương ứng với 4

B tương ứng với 3

C tương ứng với 2

D tương ứng với 1

F tương ứng với 0

2. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích luỹ được tính theo công thức (*) và làm tròn đến 2 chữ số thập phân.

(*)

Trong đó:

A là điểm trung bình chung học kỳ hoặc điểm trung bình chung tích lũy

ai là điểm học phần thứ i

ni là số tín chỉ của học phần thứ i

N là số học phần tính điểm trung bình chung.

Điểm trung bình chung học kỳ dùng để xét học bổng, khen thưởng sau mỗi học kỳ chỉ tính theo kết quả điểm học phần ở lần học thứ nhất (với số tín chỉ đăng ký ³ 18). Điểm trung bình chung học tập và điểm trung bình chung tích lũy dùng để xét cảnh cáo kết quả học tập, buộc thôi học cũng như xếp hạng học lực, xếp hạng tốt nghiệp của sinh viên tính theo kết quả điểm học phần của lần học có điểm học phần cao nhất.

Điểm học phần học trong học kỳ hè được tính vào học kỳ chính trước đó và thay thế cho điểm đã có nếu kết quả cao hơn (kể cả học phần đã đạt và học lại để cải thiện điểm).

Điều 24. Bảo lưu kết quả và miễn học học phần

Một học phần A được phép miễn học theo diện bảo lưu kết quả (điểm) khi sinh viên đã thi đạt môn tương đương trong thời gian học để lấy văn bằng thứ nhất của trường.

Việc xem xét miễn học, bảo lưu kết quả đối với sinh viên thuộc diện chuyển trường do Hiệu trưởng quyết định sau khi tham khảo ý kiến của khoa quản lý chuyên môn.

Thời gian bảo lưu các kết quả học tập của các môn học được quy định như sau:

    • Không quá 7 năm tính đến ngày xét đối với các học phần thuộc khối kiến thức giáo dục đại cương.

    • Không quá 5 năm đối với các học phần khác thuộc khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp.

Sinh viên đã có quyết định xóa tên do bỏ học, nghỉ học hoặc bị buộc thôi học nếu tham gia thi lại tuyển sinh và trúng tuyển vào hệ chính quy thì phải học lại toàn bộ chương trình đào tạo - không được xét miễn học học phần trừ các môn học đã được cấp các chứng chỉ riêng như giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất.

Điều 25. Phúc tra và khiếu nại điểm

Sau khi điểm học phần đã được công bố tại văn phòng khoa và Website Nhà trường, sinh viên có quyền gửi đơn khiếu nại về điểm (cả điểm bộ phận và điểm học phần) đến văn phòng khoa chậm nhất là 7 ngày sau ngày công bố. Trưởng khoa có trách nhiệm giải quyết và trả lời khiếu nại của sinh viên theo quy định của Nhà trường.

Khi phát hiện có bất cứ sự khác biệt nào giữa bảng ghi điểm đã công bố và điểm được nhập, lưu trữ trong hệ thống quản lý đào tạo của Nhà trường, sinh viên có trách nhiệm gửi đơn yêu cầu khoa kiểm tra lại các điểm tương ứng.

Chương IV

XÉT VÀ CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP.

Điều 26. Thực tập cuối khoá, làm đồ án hoặc khoá luận tốt nghiệp

1. Đầu học kỳ cuối khoá, sinh viên được đăng ký thực tập cuối khoá, làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp hoặc học thêm một số học phần chuyên môn theo quy định sau:

a. Sinh đăng ký thực tập tốt nghiệp như một học phần theo quy trình nêu trong điều 10.

b. Làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp: Áp dụng cho các sinh viên đạt mức quy định của Trường. Đồ án tốt nghiệp là học phần có khối lượng không vượt quá 8 tín chỉ đối với đào tạo trình độ đại học 4 năm và 10 tín chỉ đối với đào tạo trình độ đại học 2 ¸ 2,5 năm và 5 năm.

c. Học và thi một số học phần chuyên môn: Những sinh viên không được giao làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp phải đăng ký học thêm một số học phần chuyên môn, nếu chưa tích luỹ đủ số tín chỉ quy định cho chương trình.

2. Điều kiện, hình thức và thời gian làm đồ án tốt nghiệp

a. Sinh viên đã tích luỹ được ít nhất 160 tín chỉ đối với đào tạo trình độ đại học 5 năm và 130 tín chỉ đối với đào tạo trình độ đại học 4 năm có điểm trung bình chung tích luỹ đạt từ 2,2 trở lên.

b. Hình thức làm đồ án hoặc khoá luận tốt nghiệp do Trưởng khoa quyết định. Thời gian làm đồ án hoặc khoá luận tốt nghiệp từ 7- 10 tuần.

c. Chấm đồ án hoặc khoá luận tốt nghiệp được thực hiện tại văn phòng bộ môn.

d. Giảng viên hướng dẫn chịu trách nhiệm chính trong việc hướng dẫn sinh viên làm đồ án hoặc khoá luận tốt nghiệp và báo cáo tiến trình thực hiện cho bộ môn 2 tuần một lần.

3. Đối với một số ngành đào tạo đòi hỏi sinh viên phải dành nhiều thời gian thí nghiệm hoặc khảo sát để hoàn thành đồ án, khoá luận tốt nghiệp, khoa và bộ môn có thể chủ động bố trí thời gian làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp kết hợp với thời gian thực tập chuyên môn cuối khoá.

Điều 27. Chấm đồ án, khoá luận tốt nghiệp

1. Hiệu trưởng quyết định danh sách giáo viên chấm đồ án, khoá luận tốt nghiệp. Việc chấm mỗi đồ án, khoá luận tốt nghiệp phải do hai giáo viên đảm nhiệm.

2. Điểm của đồ án, khoá luận tốt nghiệp được chấm theo thang điểm chữ theo quy định tại các mục a và b, khoản 2, Điều 22 của Quy chế này. Kết quả chấm đồ án, khoá luận tốt nghiệp được công bố chậm nhất là 3 tuần, kể từ ngày nộp đồ án, khoá luận tốt nghiệp.

Điểm đồ án, khoá luận tốt nghiệp được tính vào điểm trung bình chung tích luỹ của toàn khoá học.

3. Sinh viên có đồ án, khoá luận tốt nghiệp bị điểm F phải đăng ký làm lại đồ án, khoá luận tốt nghiệp; hoặc phải đăng ký học thêm một số học phần chuyên môn để thay thế, sao cho tổng số tín chỉ của các học phần chuyên môn học thêm tương đương với số tín chỉ của đồ án, khoá luận tốt nghiệp.

Điều 28. Điều kiện xét tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp

1. Những sinh viên có đủ các điều kiện sau thì được trường xét và công nhận tốt nghiệp.

a. Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không đang trong thời gian bị kỷ luật ở múc đình chỉ học tập;

b. Tích lũy đủ số tín chỉ quy định cho chương trình đào tạo: với khối lượng tích luỹ không dưới 180 tín chỉ đối với trình độ đào tạo đại học 5 năm và sẽ có quy định cụ thể đối với trình độ đào tạo 2¸ 2,5 năm và 4 năm khi triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ;

c. Điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học đạt từ 2,00 trở lên;

d. Thỏa mãn một số yêu cầu về kết quả học tập đối với nhóm học phần thuộc ngành đào tạo chính do Hiệu trưởng quy định (nếu có);

e. Có các chứng chỉ giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất.

2. Sau mỗi học kỳ, Hội đồng xét tốt nghiệp căn cứ các điều kiện công nhận tốt nghiệp quy định tại khoản 1 của Điều này để lập danh sách những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.

Hội đồng xét tốt nghiệp do Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng được Hiệu trưởng ủy quyền làm chủ tịch, Trưởng phòng Đào tạo làm thư ký và có các thành viên là các Trưởng khoa chuyên môn, Trưởng phòng Công tác - Học sinh sinh viên, Trưởng phòng Thanh tra, Khảo thí và Đảm bảo chất lượng đào tạo.

3. Căn cứ đề nghị của Hội đồng xét tốt nghiệp, Hiệu trưởng ký quyết định công nhận tốt nghiệp cho những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.

Điều 29. Cấp bằng tốt nghiệp, bảo lưu kết quả học tập, chuyển chương trình đào tạo và chuyển loại hình đào tạo

1. Bằng tốt nghiệp đại học được cấp theo ngành đào tạo chính (đơn ngành hoặc song ngành). Hạng tốt nghiệp được xác định theo điểm trung bình chung tích luỹ của toàn khoá học như sau:

a. Loại xuất sắc: Đạt điểm trung bình chung tích luỹ từ 3,6 ¸ 4,0.

b. Loại giỏi: Đạt điểm trung bình chung tích luỹ từ 3,2 ¸ 3,59.

c. Loại khá: Đạt điểm trung bình chung tích luỹ từ 2,5 ¸ 3,19.

d. Loại trung bình khá: Đạt điểm trung bình chung tích luỹ từ 2,2 ¸ 2,49.

e. Loại trung bình: Đạt điểm trung bình chung tích luỹ từ 2,0 ¸ 2,19.

2. Hạng tốt nghiệp của những sinh viên có kết quả học tập toàn khoá loại xuất sắc và giỏi sẽ bị giảm đi một mức, nếu bị rơi vào một trong các trường hợp sau:

a. Có khối lượng của các học phần phải thi lại vượt quá 5% so với tổng số tín chỉ quy định cho toàn chương trình.

b. Đã bị kỷ luật trong thời gian học từ mức cảnh cáo trở lên trong thời gian học.

3. Kết quả học tập toàn khoá của sinh viên phải được ghi vào bảng điểm của sinh viên theo từng học phần với cả điểm học phần lần 1 và điểm học phần cao nhất (nếu có), điểm trung bình chung toàn khoá và xếp loại tốt nghiệp. Trong bảng điểm ghi rõ chuyên ngành (hướng chuyên sâu) hoặc ngành phụ (nếu có).

4. Nếu kết quả học tập của sinh viên thỏa mãn những quy định ở khoản 1 Điều 29 của Quy chế này đối với một số chương trình tương ứng với các ngành đào tạo khác nhau, thì sinh viên được cấp các bằng tốt nghiệp khác nhau theo các ngành đào tạo đó.

5. Những sinh viên còn nợ chứng chỉ giáo dục quốc phòng, chứng chỉ giáo dục thể chất nhưng đã hết thời gian tối đa được phép học, trong thời hạn 5 năm tính từ ngày phải ngừng học, được trở về trường trả nợ để có đủ điều kiện xét tốt nghiệp.

6. Sinh viên không tốt nghiệp được cấp giấy chứng nhận về các học phần đã học và đạt trong chương trình của trường. Những sinh viên này nếu có nguyện vọng, được quyền làm đơn xin chuyển sang chương trình không chính quy quy định tại khoản 3 Điều 16 của Quy chế này.

Chương V

XỬ LÝ VI PHẠM & ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 30. Xử lý kỷ luật đối với sinh viên, cán bộ vi phạm các quy định về thi, kiểm tra

1. Trong khi dự kiểm tra thường xuyên, chuẩn bị tiểu luận, kiểm tra giữa học phần, thi kết thúc học phần, chuẩn bị đồ án, khoá luận nếu vi phạm quy chế, sinh viên sẽ bị xử lý kỷ luật đối với từng học phần đã vi phạm.

2. Sinh viên đi thi hộ hoặc nhờ người thi hộ, đều bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập 1 năm đối với trường hợp vi phạm lần thứ nhất và buộc thôi học đối với trường hợp vi phạm lần thứ hai.

3. Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 của Điều này, tuỳ mức độ sai phạm mà khung xử lý kỷ luật đối với sinh viên và cán bộ coi thi vi phạm được thực hiện theo các quy định của Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Điều 31. Điều khoản thi hành

Quy chế này được áp dụng cho các khoá đào tạo đại học chính quy theo Hệ thống tín chỉ của trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - Đại học Thái Nguyên kể từ năm học 2007-2008 (K40, K41, K42, K43) thay thế cho Quy chế đào tạo theo học chế tín chỉ ban hành theo quyết định số 632/ QĐ-QCĐTTC do Hiệu trưởng trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp ký ngày 21 tháng 8 năm 2006. Riêng việc chuyển đổi K40 sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ từ năm học 2007-2008 sẽ có văn bản hướng dẫn riêng. Việc điều chỉnh, bổ sung các điều khoản của Quy chế do Hiệu trưởng quyết định.

 

 

                                                                                    HIỆU TRƯỞNG

 

 

                                                                                  (ĐÃ KÝ)

                                                           

                                                                                    PGS.TS. Nguyễn Đăng Bình

 

 Error ‭[1]‬

Web Part Error: A Web Part or Web Form Control on this Page cannot be displayed or imported. The type could not be found or it is not registered as safe.

Error Details:
[UnsafeControlException: A Web Part or Web Form Control on this Page cannot be displayed or imported. The type could not be found or it is not registered as safe.]
  at Microsoft.SharePoint.ApplicationRuntime.SafeControls.GetTypeFromGuid(Guid guid)
  at Microsoft.SharePoint.WebPartPages.SPWebPartManager.CreateWebPartsFromRowSetData(Boolean onlyInitializeClosedWebParts)

 Error ‭[2]‬

Web Part Error: A Web Part or Web Form Control on this Page cannot be displayed or imported. The type could not be found or it is not registered as safe.

Error Details:
[UnsafeControlException: A Web Part or Web Form Control on this Page cannot be displayed or imported. The type could not be found or it is not registered as safe.]
  at Microsoft.SharePoint.ApplicationRuntime.SafeControls.GetTypeFromGuid(Guid guid)
  at Microsoft.SharePoint.WebPartPages.SPWebPartManager.CreateWebPartsFromRowSetData(Boolean onlyInitializeClosedWebParts)