Các thành tích

            Xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ giảng dạy (CBGD), là một nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa quyết định sự phát triển và chất lượng đào tạo, NCKH của Đại học. Xuất phát từ nhận thức trên, ĐHTN đã coi trọng và quan tâm tới công tác xây dựng đội ngũ, làm cho đội ngũ cán bộ của Đại học không ngừng trưởng thành và lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng.

             Khi thành lập (năm 1994), ĐHTN mới có 1.556 CBVC, thì đến hết năm 2008 đã có tới 2.988 người (gấp 1,93 lần so với năm 1994). Đặc biệt, số lượng CBGD tăng với tốc độ nhanh, từ 963 người (năm 1994) lên tới 2.112 người (năm 2008) (gấp 2,2 lần so với năm 1994); tỷ lệ CBGD so với tổng số CBVC đã tăng lên đáng kể, từ 61,9% (năm 1994) lên tới 70,7% (năm 2008). Sự tăng lên nhanh chóng về số lượng và tỷ lệ CBGD trong cơ cấu CBVC phản ánh sự ưu tiên của Đại học cho đào tạo; đồng thời cũng là yêu cầu tất yếu của sự gia tăng quy mô đào tạo.

            Bên cạnh sự tăng lên về số lượng, chất lượng đội ngũ CBGD cũng không ngừng tăng lên qua các năm. Đến hết năm 2008, số CBGD có chức danh giáo sư (GS), phó giáo sư (PGS) là 60 người; giảng viên chính là 413 người; tiến sĩ là 205 người; thạc sĩ và tương đương là 956 người. So với năm 1994, năm 2008 có số GS, PGS tăng 2,14 lần; số giảng viên chính tăng 2,5 lần; số tiến sĩ tăng gần 2,3 lần; số thạc sĩ và tương đương tăng gần 4,5 lần. Điều đó cho thấy, chất lượng đội ngũ CBGD của Đại học đã có bước chuyển biến rõ rệt.

             Trong 15 năm qua, toàn Đại học đã cử được 1.760 người đi học tiến sĩ và thạc sĩ, trong đó, 484 người đi học tiến sĩ và 1.276 người đi học thạc sĩ; đã có 190 người tốt nghiệp tiến sĩ và 943 người tốt nghiệp thạc sĩ. Chỉ tính riêng trong 03 năm (2006 - 2008), Đại học đã cử được 259 người đi học tiến sĩ (chiếm trên 53% số người được cử đi học tiến sĩ trong cả 15 năm) và 518 người đi học thạc sĩ (chiếm trên 40% số người được cử đi học thạc sĩ trong 15 năm qua); đã có 61 người tốt nghiệp tiến sĩ (chiếm 32% tổng số tiến sĩ tốt nghiệp trong 15 năm) và 406 người tốt nghiệp thạc sĩ (chiếm 43% tổng số thạc sĩ tốt nghiệp trong 15 năm). Trung bình trong giai đoạn này, mỗi năm có 20 người tốt nghiệp tiến sĩ và 135 người tốt nghiệp thạc sĩ.

             Khi mới thành lập, ĐHTN chủ yếu đào tạo bậc đại học và một số bậc thấp hơn như cao đẳng, trung cấp và công nhân nghề; đào tạo sau đại học mới được thực hiện ở bậc cao học với số lượng chuyên ngành ít và quy mô nhỏ. Toàn Đại học chỉ đào tạo 10 chuyên ngành sau đại học (thạc sĩ và bác sĩ chuyên khoa cấp 1); 16 ngành ở trình độ đại học; 11 ngành ở trình độ cao đẳng; 03 ngành ở trình độ trung cấp và 03 nghề ở trình độ công nhân bậc 3/7 với số lượng học sinh, sinh viên (HSSV) là 6.285 người.
            Với vai trò là Đại học vùng, Đại học trọng điểm quốc gia, việc mở rộng ngành, nghề đào tạo trong những năm qua chủ yếu tập trung cho các bậc học từ Đại học trở lên. Vì vậy, số ngành học ở bậc đại học không ngừng phát triển nhanh chóng. Năm 1994, Đại học mới có 16 ngành đào tạo ở bậc đại học; thì đến năm 2000 đã là 39; năm 2005 lên tới 78 và đến năm 2008 là 116 ngành (bằng 7,25 lần so với năm 1994). 
Quy mô tuyển sinh và quy mô học viên sau đại học cũng không ngừng tăng lên nhanh chóng qua các năm. Sự tăng lên nhanh của các chuyên ngành đào tạo, quy mô tuyển sinh và quy mô học viên đã phản ánh sự phát triển nhanh chóng của đào tạo sau đại học trong những năm qua, đặc biệt là trong 3 năm gần đây (2006-2008).


Lễ trao bẳng thạc sĩ của Đại học Thái Nguyên

Tính từ 1994 đến hết năm 2008, Đại học đã đào tạo tốt nghiệp được 13 tiến sĩ, 1.881 thạc sĩ và 1.045 bác sĩ chuyên khoa cấp I. Ngoài ra, từ năm 1999, ĐHTN cũng đã phối hợp với các Viện nghiên cứu, các cơ sở giáo dục trong và ngoài nước, đào tạo được 537 thạc sĩ. Việc phối hợp đào tạo sau đại học với các Viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục trong và ngoài nước là cơ hội tốt để trao đổi học thuật, khai thác đội ngũ cán bộ khoa học đầu đàn, thiết bị nghiên cứu của các cơ sở đối tác; nâng cao trình độ đội ngũ CBGD, mở rộng uy tín, ảnh hưởng của Đại học.

            Đặc biệt, từ năm 2007, liên kết quốc tế về đào tạo sau đại học đã có bước phát triển nhanh chóng. Hiện nay, ĐHTN đang thực hiện 6 chương trình liên kết đào tạo sau đại học với các Đại học và học viện của các nước Philippine, Hàn Quốc và Trung Quốc với tổng số học viên là 380 người.


Lễ ký kết hợp tác giữa Đại học Thái Nguyên và Đại học RMIT

            Cùng với đào tạo, công tác khoa học là một trong các nhiệm vụ trọng tâm của Đại học. Tuy nhiên, khi mới thành lập, do còn nhiều khó khăn về kinh phí và nguồn lực cán bộ khoa học, nên công tác khoa học còn có nhiều hạn chế. Toàn Đại học mới thực hiện trên 20 đề tài cấp Bộ, 40 đề tài cấp cơ sở và 20 đề tài sinh viên; lực lượng cán bộ giảng dạy và sinh viên tham gia NCKH còn rất ít, chưa tương xứng với tiềm năng của các trường đại học; sự phối hợp NCKH và chuyển giao CN với các địa phương hầu như không có.

            Trong 07 năm đầu (1994 – 2000), toàn Đại học chỉ thực hiện 01 đề tài cấp nhà nước; 05 năm tiếp theo (2001-2005), đã thực hiện 15 đề tài cấp nhà nước và tương đương; và 03 năm cuối (2006 – 2008), đã thực hiện 10 đề tài cấp nhà nước và tương đương.

            Cùng với sự gia tăng của các đề tài nghiên cứu và bài báo khoa học, hoạt động KH – CN ngày càng gắn với đào tạo và phục vụ tích cực các yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của vùng. Đặc biệt là trong 03 năm gần đây (2006 – 2008), Đại học đã gắn các đề tài NCKH cấp bộ với thực hiện các luận án tiến sĩ của NCS; ký kết được các thoả thuận hợp tác toàn diện về NCKH và chuyển giao CN với 04 tỉnh thuộc vùng trung du, miền núi Bắc Bộ; thực hiện hàng trăm chương trình chuyển giao công nghệ cho hầu hết các tỉnh trung du, miền núi Bắc Bộ; nhiều chương trình mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực, góp phần xóa đói, giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương.

Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác khoa học với một số tỉnh vùng trung du, miền núi phía Băc

            Ngoài ra, Đại học cũng đã đổi mới quy trình, phương pháp xét chọn các đề tài NCKH theo hướng ưu tiên các đề tài có tính ứng dụng cao, giải quyết các vấn đề trọng điểm của vùng và đất nước. Đồng thời, Đại học cũng tích cực đầu tư xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, NCKH, chuyển giao CN và xây dựng cơ sở vật chất ban đầu để thành lập các Viện nghiên cứu. Chỉ trong 03 năm (2006 – 2008), bằng các nguồn kinh phí khác nhau, Đại học đã đầu tư cho các phòng thí nghiệm trọng điểm với số kinh phí lên tới 62,8 tỷ đồng và xây dựng 03 dự án lớn đầu tư thiết bị nghiên cứu với tổng kinh phí gần 150 tỷ đồng, trên cơ sở đó, đã thành lập được 03 viện nghiên cứu, 01 bệnh viện thực hành. 

            Cùng với việc xây dựng bộ máy tổ chức của Đại học, bộ máy quản lý HSSV cũng không ngừng được củng cố, hoàn thiện. Việc thành lập Ban Công tác HSSV vào năm 1999 và củng cố phòng Công tác HSSV tại các đơn vị thành viên đã hình thành nên hệ thống giáo dục chính trị, tư tưởng và quản lý HSSV chuyên trách trong toàn Đại học. Do đó, công tác giáo dục chính trị tư tưởng và quản lý HSSV của Đại học đã chuyển biến rõ rệt và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. 

            Trải qua 15 năm nỗ lực phấn đấu không ngừng, ĐHTN đã lập được nhiều thành tích xuất sắc trên tất cả các lĩnh vực công tác; được Đảng, Nhà nước và Chính phủ tặng nhiều phần thưởng cao quý: 6 lượt tập thể được tặng thưởng huân chương độc lập; 11 lượt tập thể và 20 cá nhân được tặng thưởng huân chương lao động; 01 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới; 36 nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú; 5 cá nhân được phong tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc và nhiều tập thể, cá nhân được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen.

            Việc tặng thưởng và phong tặng các danh hiệu cao quý cho các tập thể và cá nhân của ĐHTN là sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước và Chính phủ đối với các thành tích to lớn của Đại học trong quá trình xây dựng và phát triển, đồng thời là nguồn động viên, cổ vũ mạnh mẽ đối với tập thể CBVC của Đại học. 

                                             Đại học Thái Nguyên