Tin mới cập nhật

Thông tin kết quả nghiên cứu đề tài KH&CN cấp Đại học mã số ĐH2015-TN08-04 do ThS. Phạm Thùy Linh - Trường Đại học Kinh tế & QTKD - Đại học Thái Nguyên chủ nhiệm

Đăng ngày: 27-06-2018; 124 lần đọc

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1. Thông tin chung

- Tên đề tài: Sử dụng mô hình GMM để phân tích xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam

- Mã số: ĐH2015-TN08-04

- Chủ nhiệm đề tài: ThS. Phạm Thùy Linh

- Tổ chức chủ trì: Trường ĐH Kinh tế & QTKD

- Thời gian thực hiện: từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 9 năm 2017

2. Mục tiêu

  Mục tiêu chung:                

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là phân tích xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam dựa trên mô hình hồi quy GMM. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam.

Mục tiêu cụ thể:

(1) Phân tích thực trạng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam.

(2) Xây dựng mô hình các yếu tố tác động đến xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam.

(3) Sử dụng phương pháp ước lượng GMM để đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam.

(4) Đề xuất một số giải pháp hạn chế tác động của các yếu tố cản trở và phát huy tác động của các yếu tố tích cực nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam.

3. Tính mới và sáng tạo

Để phân tích xuất khẩu dệt may của Việt Nam, đề tài sử dụng mô hình hồi quy động, theo đó giá trị trễ của biến phụ thuộc về kim ngạch xuất khẩu được đưa vào mô hình, từ đó cho phép giá trị của biến phụ thuộc trong quá khứ có tác động lên giá trị của biến phụ thuộc trong hiện tại. Đề tài này sử dụng bộ số liệu mảng (panel data) cập nhật nhất, cho phép xem xét sự biến động của dữ liệu nghiên cứu theo cả hai khía cạnh là thời gian và đối tác thương mại. Đồng thời, với mô hình GMM, đề tài giải quyết được vấn đề nội sinh thường gặp trong các nghiên cứu về xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam mà các nghiên cứu trước đây chưa đề cập tới. Một số yếu tố mới được đưa vào mô hình phân tích là sự phát triển của cơ sở hạ tầng, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của từng nước đối tác vào Việt Nam. Sự có mặt của các yếu tố này trong mô hình nghiên cứu giúp luận giải một cách sâu sắc hơn về xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam.

4. Kết quả nghiên cứu

Dệt may là một ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế và quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Lợi thế so sánh dựa vào lực lượng lao động dồi dào, giá rẻ của Việt Nam đang dần mất đi do sự cạnh tranh từ các đối thủ. Thị  trường xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam đang tập trung vào ba khu vực chính là Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản, trong đó mỗi thị trường có nhu cầu và thị hiếu rất khác nhau, chưa kể đến mỗi quốc gia lại có những quy định, rào cản thương mại khác nhau đối với hàng dệt may. Việt Nam đang là một trong số các quốc gia hàng đầu về xuất khẩu dệt may trên thế giới. Tuy nhiên trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, các doanh nghiệp Việt Nam chỉ đóng góp giá trị gia tăng rất nhỏ do phần lớn chỉ thực hiện các hợp đồng gia công ở giai đoạn thấp theo hình thức CMT và FOB.

Kết quả ước lượng mô hình các yếu tố tác động đến xuất khẩu dệt may của Việt Nam bằng phương pháp GMM cho thấy:

- Biến động về giá trị xuất khẩu có tác động trọng dài hạn. Kim ngạch xuất khẩu ở giai đoạn trước tạo động lực tích cực thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu ở các giai đoạn sau.

- Trình độ kinh tế càng phát triển, quy mô kinh tế càng lớn thì xuất khẩu hàng dệt may càng tăng. Đồng thời mức độ tương đồng về kinh tế của Việt Nam với các nước nhập khẩu hàng dệt may càng cao thì xuất khẩu hàng dệt may sang các nước đó càng lớn.

- Khoảng cách địa lý giữa Việt Nam và nước nhập khẩu càng lớn thì xuất khẩu hàng dệt may càng nhỏ.

- Yếu tố vị trí địa lý của nước nhập khẩu cũng ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam, cụ thể là các quốc gia không giáp biển và không có đường biên giới chung với Việt Nam có xu hướng nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam ít hơn các nước giáp biển và có đường biên giới chung với    Việt Nam.

- Cơ sở hạ tầng càng phát triển thì xuất khẩu hàng dệt may càng tăng.

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực đến xuất khẩu hàng      dệt may.

- Xuất khẩu dệt may của Việt Nam tăng khi chênh lệch thu nhập bình quân đầu người giữa Việt Nam và nước đối tác ngày càng lớn.

5. Sản phẩm

Sản phẩm của đề tài gồm có:

- 01 bài báo đăng tạp chí nước ngoài:

Pham Hoang Linh, Pham Thuy Linh and Dam Thanh Huyen (2017), “An analysis of Vietnam’s Textile and Garment Exports: Patterns and Trends”, The International Journal of Humanity and Social Studies, 5 (7), pp. 209-214.

- 02 bài báo đăng tạp chí trong nước:

Phạm Thùy Linh, Nguyễn Khánh Doanh (2018), “Nghiên cứu xuất khẩu dệt may của Việt Nam: So sánh với Trung Quốc và Ấn Độ”, Tạp chí Kinh tế & phát triển, 247(1), tr. 43-51.

Phạm Thuỳ Linh, Phạm Hoàng Linh, Trần Thị Thu Trâm (2017), “Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập mới”, Tạp chí Khoa học & Công nghệ, 167(07), tr. 219-233.

- 01 đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên:

Tên đề tài: Phân tích lợi thế so sánh ngành dệt may Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU.

Mã số: SV2015 - MA - 014

Sinh viên: Hoàng Thị Kim Nhung

GVHD: Phạm Thùy Linh

6. Phương thức chuyển giao, địa chỉ ứng dụng, tác động và lợi ích mang lại của kết quả nghiên cứu

Đề tài góp phần nâng cao nhận thức về các yếu tố tác động tới xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Từ đó, khuyến khích và đẩy mạnh các nghiên cứu nhằm đề xuất giải pháp tăng cường xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam.

Những kết quả của đề tài có thể được chuyển giao cho các đơn vị liên quan đến xuất khẩu dệt may để đẩy mạnh xuất khẩu dệt may trong thời gian tới, nâng cao giá trị gia tăng của ngành, phát huy vai trò của ngành trong quá trình phát triển kinh tế đất nước.

 

INFORMATION ON RESEARCH RESULTS

1. General information

Project title: Applying GMM model to analyse Vietnam’s textile and garment exports

Code number: ĐH2015-TN08-04

Coordinator: MSc. Pham Thuy Linh

Implementing institution: Thai Nguyen University of Economics and Business Administration

Duration: from September 2015 to September 2017

2. Objective(s)

General Objectives:

The general objective of the study is to analyse Vietnam’s textile and garment exports by applying GMM model. Then, it proposes some policy recommendations to  boost the nation’s textile and garment exports.

Specific Objectives:

(1) Analysing current situation of Vietnam’s textile and garment exports.

(2) Constructing a model analysing factors affecting Vietnam’s textile and garment exports.

(3) Applying GMM model to measure the impacts of factors on Vietnam’s textile and garment exports.

(4) Proposing some policy recommendations to restrict negative factors and enhance positive factors in order to boost the nation’s textile and garment exports.

3. Creativeness and innovativeness

The study applied a dynamic model, in which lagged value of exports was incorporated into the model in order for past value of dependent variable has influence on its current value. The most updated panel data was used to investigate the dynamic trend in both time and trade partner dimensions. By applying GMM model, the paper solved the problem of endogeneity in previous study on Vietnam’s textile and garment exports. Some new factors are incorporated into the model like infrastructure, and FDI inflows from separate trade partners, which provided a more detailed explanation on the nation’s textile and garment export.

4. Research results

Textile and garments was a key export industry of Vietnam, and it makes a great contribution to the nation’s economic growth and industrialization and mordernization. The nation was losing its comparative advantage on abundant and cheap labour as a result of competition. Export markets were the United States, EU, and Japan, of which, each nation had different demands, tastes, and trade regulations on textile and garment.

Estimated results by applying GMM model are:

- The significant effect of dynamic changes in export value in the long term was confirmed. Lagged value of exports stimulated exports in later periods.

- Economic growth boosted textile and garment exports. Besides, the similarity in economic between Vietnam and its trade partners had positive impacts on exports.

- Geographical distance between Vietnam and import markets had negative impacts on exports.

- Vietnam tended to export more to nations which were not landlocked and shared common border.

- Infrastructure had positive impacts on textile and garment exports.

- FDI had positive impacts on textile and garment exports.

- The bigger the gap in GDP per capita between Vietnam and its trade partners got, the higher volume of its textile and garment exports was.

5. Products

- 01 article published on an international journal;

Pham Hoang Linh, Pham Thuy Linh and Dam Thanh Huyen (2017), “An analysis of Vietnam’s Textile and Garment Exports: Patterns and Trends”, The International Journal of Humanity and Social Studies, 5(7), pp. 209-214.

- 02 article published on a domestic journal:

Pham Thuy Linh, Nguyen Khanh Doanh (2018), “Vietnam’s Textile and Garment Exports: A Comparative Analysis with China and India”, Journal of economics and development, 247(1), pp. 43-51.

Pham Thuy Linh, Pham Hoang Linh, Tran Thi Thu Tram (2017), “Vietnam’s garment export in new intergration background”, Journal of Science and Technology, 167 (07), pp. 219-233.

- 01 scientific research carried out by student:

 Title: An analysis of comparative advantages of Vietnam’s textile and garment exports to EU market.

Code number: SV2015 - MA - 014

Student: Hoang Thi Kim Nhung

Supervisor: Pham Thuy Linh

6. Transfer alternatives, application institutions, impacts and benefits of research results

This study helped to broaden the knowledge on determinants of Vietnam’s textile and garment exports. Then, it stimulated other studies to propose policy to boost the nation’s textile and garment exports. The result of this study can be transferred to establishments that deal with texttile and garment exports to boost export volume, increase the industry’ s value added, and enhance its role in the nation’s economic development process.

File đính kèm:

- Báo cáo tóm tắt

- Báo cáo tổng kết

Tin bài: Ban KHCN&MT